Pages

Powered by Blogger.

Thursday, 10 December 2015

Kinh tế Việt Nam sẽ thoát suy giảm trong 5 năm tới

Trung tâm Thông tin và Dự báo kinh tế - xã hội quốc gia dự báo GDP bình quân giai đoạn 2015-2020 nhiều khả năng tăng xấp xỉ 6,7%.
 
Phát biểu tại Hội thảo dự báo kinh tế - xã hội phục vụ lập kế hoạch trung hạn trong bối cảnh hội nhập quốc tế sáng nay (2/12), bà Mai Thị Thu, Giám đốc Trung tâm Thông tin và Dự báo kinh tế - xã hội quốc gia (NCIF) nhận định trong giai đoạn 2016-2020, nền kinh tế Việt Nam sẽ thoát khỏi giai đoạn suy giảm và bắt đầu vào chu kỳ phục hồi mới.

“Tăng trưởng kinh tế được kỳ vọng hồi phục mạnh nhờ vào hàng loạt yếu tố hỗ trợ từ giá hàng hóa thấp, lực đẩy từ doanh nghiệp vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài và nhu cầu bên ngoài, cùng với những cải cách thể chế”, bà Thu nói.

kinh-te-viet-nam-se-thoat-suy-giam-trong-5-nam-toi
Tăng trưởng GDP giai đoạn 2016 - 2020 nhiều khả năng khoảng 6,7%.

Dẫn chứng cụ thể bằng mô hình định lượng, Ban Phân tích và Dự báo thuộc NCIF đưa ra ba kịch bản tăng trưởng cho 5 năm tới. Trong kịch bản chủ yếu, tăng trưởng GDP bình quân giai đoạn 2016-2020 có thể đạt mức 6,67%, trong khi lạm phát duy trì ở mức thấp dưới 5%. Nếu lạc quan hơn, Việt Nam có thể tăng trưởng tới 7,04% trong hoàn cảnh tiến trình cải cách cũng như chuyển đổi nền kinh tế diễn ra mạnh mẽ hơn, những nguy cơ đe dọa như nợ công hay nợ xấu được giải quyết triệt để.

Ngược lại, nếu nền kinh tế tiếp tục phát triển như mô hình cũ, những rủi ro về hệ thống tài chính và nợ công ngày một lớn và gặp thêm những tác động tiêu cực từ kinh tế thế giới, Việt Nam sẽ gặp phải những biến cố khó lường, tốc độ tăng trưởng chỉ đạt khoảng 6% và lạm phát tăng cao trở lại lên mức 7.

Để nền kinh tế chuyển dịch đúng hướng, đảm bảo được bền vững trong dài hạn, tiến sĩ Đặng Đức Anh - Ban Phân tích và Dự báo đề xuất Việt Nam cần phải giải quyết dứt điểm những nút thắt của nền kinh tế trong ngắn hạn, bao gồm nợ đọng trong thị trường bất động sản, nợ xấu, năng suất lao động, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.

Bên cạnh đó, Chính phủ cần xây dựng chiến lược - quy hoạch phát triển trong dài hạn rõ ràng, có lộ trình cụ thể, định hướng phát triển ổn định để kêu gọi các nguồn đầu tư. Minh bạch công khai hóa thông tin về hiện trạng nền kinh tế cũng là biện pháp nhằm nâng cao niềm tin của giới đầu tư và tìm hướng giải quyết hiệu quả cho nền kinh tế. 

Về đầu tư, Nhà nước cần phải khơi thông luồng vốn sản xuất, huy động tối đa nguồn đóng góp từ mọi thành phần xã hội để phát triển đất nước, song hành với việc đưa ra một khung giám sát và bộ chỉ tiêu đánh giá hiệu quả đầu tư, tránh đầu tư dàn trải, không hiệu quả và lãng phí nguồn lực.

Tiến sĩ Lưu Bích Hồ - Nguyên Viện trưởng Viện Chiến lược phát triển cho biết nguyên nhân khiến tăng trưởng chậm trong giai đoạn 2011-2015 là do tái cơ cấu chậm, nên giai đoạn này muốn tăng trưởng tốt hơn thì phải quyết liệt tái cơ cấu. "Tôi không mong kinh tế sẽ bật ghê gớm, chỉ mong 5 năm tới sẽ tạo tiền đề để đi lên", ông phát biểu.

Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Đặng Huy Đông cũng nhận định năm 2015 là năm cuối cùng của giai đoạn 2011-2015 và tiến hành xây dựng kế hoạch 5 năm tới, nhiệm vụ đặt ra là phải tìm kiếm các động lực tăng trưởng mới.

"Kinh tế 2015 ước tăng 6,5% - vượt mục tiêu đề ra, song 5 năm qua chỉ tăng trung bình dưới 6%,  thấp hơn nhiều mức 6,32% của 5 năm trước. Nhiệm vụ của giai đoạn 2016-2020 hết sức nặng nề, phải tận dụng mọi cơ hội thách thức để phát triển kinh tế", Thứ trưởng nói.

WB: Nợ công Việt Nam rủi ro vì phải tăng vay trong nước

Các nguồn tài trợ ưu đãi bên ngoài giảm dần khiến Chính phủ phải dựa nhiều vào vốn vay kỳ hạn ngắn hơn trong nước.
 
Rủi ro về nợ công là một trong những vấn đề đáng chú ý được nêu ra tại buổi họp báo cập nhật tình hình phát triển kinh tế Việt Nam của Ngân hàng Thế giới (WB) ngày 2/12.

WB nhận định, nợ công của Việt Nam đã tăng nhanh trong vài năm gần đây (từ 51,7% lên 61,3% GDP trong vòng 5 năm). Trong đó, nợ trực tiếp của Chính phủ chiếm 48,9% GDP, do Chính phủ bảo lãnh chiếm 11,4%. Đây cũng là những con số được Bộ Tài chính báo cáo Quốc hội gần đây.

wb-no-cong-viet-nam-rui-ro-vi-phai-tang-vay-trong-nuoc
Rủi ro về nợ công của Việt Nam tiếp tục gây lo lắng. Ảnh: FT

"Tổng nợ công đang nhanh chóng tiến tới mức trần 65% GDP. Hiện nay các nhà tài trợ đang dần rút vốn khỏi Việt Nam làm cho nguồn vốn ưu đãi bên ngoài cũng giảm theo. Vì vậy Chính Phủ sẽ phải dựa chủ yếu vào vay nợ trong nước để đáp ứng yêu cầu chi tiêu", báo cáo nêu. Rủi ro lớn nhất với tài khóa của Việt Nam, nằm chính ở việc chuyển sang vay nợ trong nước nhiều hơn này, khi thời hạn các khoản vay bị rút ngắn, dù được lợi về tỷ giá.

Trước đó, tỷ trọng nợ trong nước so với tổng nợ công đã tăng từ 45% năm 2010 lên 53% năm 2014. Nguồn vốn dài hạn khá hạn chế do thị trường vốn nội địa chưa phát triển và có ít người tham gia, chủ yếu là các ngân hàng. Vì vậy, việc trả nợ sẽ là một gánh nặng đối với ngân sách.

Năm 2014, Chính phủ đã chi khoàng 8% tổng thu ngân sách vào việc trả lãi nên ảnh hưởng tới các khoản chi phát triển sản xuất và đầu tư. Tổng nghĩa vụ trả nợ, cả nợ gốc đã chiếm trên một phần tư tổng thu của, làm cho các rủi ro về tái cấp vốn ngày càng trở nên nghiêm trọng.

Lũy kế 9 tháng đầu năm 2015, trả nợ gốc từ ngân sách tăng lên 12,6% do nghĩa vụ nợ công tăng. Tỷ trọng đầu tư phát triển sản xuất trong tổng chi ngân sách giảm 10% xuống 15,6% so với giai đoạn 2011-2014.

Tại họp báo, ông Phạm Minh Đức, chuyên gia từ WB cho biết từ 1/7/2017, Việt Nam phải đối mặt với việc trả nợ các khoản vay IDA (nguồn vốn vay chính thức từ WB). Theo đó, Việt Nam phải tăng tốc độ trả nợ vốn vay, con số lên hàng chục tỷ USD. Để giải quyết nợ này Việt Nam phải tăng khả năng tiếp cận thị trường vốn trong nước và quốc tế, có khung kinh tế vĩ mô nhất quán, bền vững từ đó tăng mức độ tín nhiệm lên.

Trước đó, trong kỳ họp Quốc hội vừa qua, Bộ Tài chính đã đề xuất phương án phát hành trái phiếu quốc tế để tái cơ cấu danh mục nợ trong nước và bù đắp thiếu hụt nguồn vốn nước ngoài khi Việt Nam "tốt nghiệp" IDA, con số lên tới 16 tỷ USD.

wb-no-cong-viet-nam-rui-ro-vi-phai-tang-vay-trong-nuoc-1
Toàn cảnh nợ công của Việt Nam.

WB nhận định nếu Việt Nam chậm thực hiện chương trình thắt chặt tài khóa thì mức độ bền vững nợ cũng bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Áp lực tăng chi tiêu, kể cả tăng lương, sẽ gây khó khăn cho việt cắt giảm thâm hụt ngân sách. Các rủi ro về tài khóa còn trở nên trầm trọng hơn bởi trách nhiệm trả nợ liên tới liên quan đến các món nợ của doanh nghiệp và các ngân hàng thương mại nhà nước.

"Cùng với tăng trưởng tín dụng các rủi ro trong ngành ngân hàng, kể cả tăng trưởng nóng nếu không quản lý thận trọng có thể gây ra một đợt mất ổn định mới và tác động tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế Việt Nam", WB cho hay.

Về triển vọng kinh tế trung hạn, Việt Nam được đánh giá là tích cực. GDP dự báo sẽ tăng 6,5% trong cả năm 2015 và củng cố trong năm 2016 nhờ cầu trong nước tăng lên.

Ngành công nghiệp chế tạo và xây dựng được kỳ vọng sẽ phát triển mạnh mẽ. Lạm phát dự báo ở mức thấp, ít khả năng Ngân hàng Nhà nước sẽ thắt chặt chính sách tiền tệ trong kỳ hạn. Dòng kiều hối ổn định, cán cân thương mại thu hẹp do giảm nhập khẩu, tăng xuất khẩu. Môi trường kinh doanh của Việt Nam từng bước được cải thiện, dự kiến năm 2016 xếp số 90 trong tổng số 189 nền kinh tế.

Bên cạnh đó, tái cơ cấu kinh tế chậm chạp gây nhiều rủi ro tới viễn cảnh tăng trưởng trong dài hạn. WB cảnh báo phía Việt Nam cần phải tiếp tục quản lý vĩ mô tốt nhằm bảo vệ nền kinh tế an toàn trước các cú sốc có thể xảy ra. Thắt chặt tài khóa, chính sách tỷ giá linh hoạt hơn và tăng cường dự trữ ngoại tệ sẽ giúp khắc phục những yếu kém.

Việt Nam - EU chính thức kết thúc đàm phán hiệp định thương mại tự do

4 tháng sau phiên làm việc chính thức cuối cùng, Việt Nam và Liên minh châu Âu vừa ký tuyên bố kết thúc đàm phán Hiệp định thương mại tự do tại Bỉ vào chiều 2/12 (theo giờ Hà Nội).
 
Bộ Công Thương cho biết Tuyên bố kết thúc đàm phán Hiệp định Thương mại tự do giữa Việt Nam và Liên minh châu Âu (EU) vừa được Bộ trưởng Vũ Huy Hoàng và Cao ủy Thương mại EU - Cecilia Malmstrom ký kết hôm 2/12, sau hơn 3 năm đàm phán với 14 phiên chính thức.

Tuyên bố được ký với sự chứng kiến của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng trong khuôn khổ chuyến thăm châu Âu từ đầu tuần. Hai bên cũng cho biết đã thống nhất sẽ nỗ lực hoàn tất quá trình phê chuẩn trong thời gian sớm nhất để hiệp định có hiệu lực ngay từ đầu năm 2018, nhằm cụ thể hóa những lợi ích tại văn bản này.

viet-nam-eu-chinh-thuc-ket-thuc-dam-phan-hiep-dinh-thuong-mai-tu-do
Bộ trưởng Công Thương - Vũ Huy Hoàng và Cao ủy Thương mại EU - Cecilia Malmstrom ký tuyên bố với sự chứng kiến của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và Chủ tịch EC Jean-Claude Juncker. Ảnh: AFP

Với mức độ cam kết đã đạt được, hiệp định được hai phía đánh giá "đã đảm bảo cân bằng lợi ích cho cả Việt Nam và EU, trong đó cũng đã lưu ý đến chênh lệch về trình độ phát triển". 

Các nội dung chính của hiệp định gồm: Thương mại hàng hóa, quy tắc xuất xứ, hải quan và thuận lợi hóa thương mại, các biện pháp vệ sinh an toàn thực phẩm và kiểm dịch động thực vật (SPS), hàng rào kỹ thuật trong thương mại (TBT), thương mại dịch vụ (quy định chung và cam kết mở cửa thị trường), đầu tư, phòng vệ thương mại, cạnh tranh, doanh nghiệp nhà nước, mua sắm của Chính phủ, sở hữu trí tuệ (gồm cả chỉ dẫn địa lý), phát triển bền vững…
 
Hiệp định cũng bao gồm cách tiếp cận mới, tiến bộ hơn về bảo hộ đầu tư và giải quyết tranh chấp đầu tư. Hai bên kỳ vọng văn bản này sẽ tiếp tục tạo động lực thúc đẩy thương mại, đầu tư, tăng trưởng kinh tế và giúp tạo thêm nhiều việc làm tại Việt Nam và EU. 

Với đặc điểm nổi bật trong cơ cấu xuất nhập khẩu 2 bên là tính bổ sung mạnh mẽ, các cam kết mở cửa thị trường đạt được sẽ là một cú hích quan trọng, giúp mở rộng hơn nữa thị trường cho hàng xuất khẩu, đặc biệt là những sản phẩm mà hai bên có thế mạnh như dệt may, giày dép, nông thủy sản, đồ gỗ của Việt Nam và máy móc, thiết bị, ôtô, đồ uống có cồn, một số loại nông sản của EU...

Việt Nam và EU cũng sẽ xóa bỏ thuế nhập khẩu đối với hơn 99% số dòng thuế. 1% dòng thuế còn lại, hai bên sẽ dành cho nhau hạn ngạch hoặc cắt giảm thuế quan một phần.

Trong lĩnh vực đầu tư, các cam kết nhằm đảm bảo một môi trường đầu tư, kinh doanh cởi mở, thông thoáng hơn trong hiệp định sẽ giúp thúc đẩy luồng vốn đầu tư với các dự án chất lượng cao của EU và cả các đối tác khác vào Việt Nam. Với quy mô và tiềm năng phát triển đầu tư của EU, Việt Nam có cơ hội trở thành địa bàn trung chuyển, kết nối cho hoạt động thương mại và đầu tư trong khu vực. 

EU hiện là đối tác thương mại lớn thứ 2 và là một trong hai thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam. Kim ngạch thương mại hai chiều Việt Nam - EU đã tăng từ 17,75 tỷ USD vào năm 2010 lên 36,8 tỷ USD năm 2014. Trong 6 tháng đầu năm 2015, tổng thương mại hai chiều đạt 19,4 tỷ USD, tăng hơn 11% so với cùng kỳ năm 2014. Trong đó, xuất khẩu của Việt đạt gần 15 tỷ USD, với các mặt hàng chủ lực là giày dép, dệt may, cà phê, đồ gỗ, hải sản...

EU cũng là nhà đầu tư lớn vào Việt Nam. 23 trong số 28 nước EU đã đầu tư vào Việt Nam với hơn 2.100 dự án còn hiệu lực, tổng vốn đầu tư đăng ký đạt trên 38,4 tỷ USD. Các nhà đầu tư EU đã có mặt tại hầu hết các ngành kinh tế quan trọng, tập trung nhiều nhất vào công nghiệp, xây dựng và một số ngành dịch vụ.

Việt Nam lệ thuộc hàng hóa Trung Quốc nhiều nhất Đông Nam Á

Với vị trí địa lý liền kề và là một thị trường lớn, sự phụ thuộc thương mại vào Trung Quốc đang là e ngại và thách thức lớn dành cho Việt Nam.
 
Theo tham luận của tiến sĩ Nguyễn Đình Cung và Trần Toàn Thắng - Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương (CIEM) gửi tới hội thảo “Dự báo kinh tế - xã hội phục vụ lập kế hoạch trung hạn trong bối cảnh hội nhập quốc tế” ngày 2/12, Việt Nam đang giữ vị trí cao nhất trong số các đối tác lớn như Mỹ, châu Âu, Nhật Bản và khu vực Đông Nam Á (ASEAN) về mức độ phụ thuộc nhập khẩu từ Trung Quốc.

Nếu như thời điểm năm 2004, chỉ số phụ thuộc của ASEAN cao hơn của Việt Nam khoảng 16%, thì đến năm 2014, mọi việc đã đổi chiều khi chỉ số của Việt Nam cao hơn ASEAN 21,7%. Quan trọng hơn, sự việc này lại có xu hướng gia tăng nhanh chóng, đặc biệt với một số nhóm hàng như nguyên liệu dệt may, thiết bị, linh kiện điện tử, máy móc thiết bị cơ khí.

viet-nam-le-thuoc-hang-hoa-trung-quoc-nhieu-nhat-dong-nam-a
Việt Nam đang phụ thuộc nhập khẩu từ Trung Quốc lớn nhất ASEAN và các đối tác lớn. Nguồn: báo cáo của nhóm tác giả CIEM

Chuyên gia của CIEM đánh giá gia tăng sự phụ thuộc nhập khẩu tạo nên rào cản lớn đối với doanh nghiệp Việt Nam khi đa dạng hóa thị trường và tận dụng các ưu đãi từ quá trình hội nhập. Hầu hết các hiệp định thương mại tự do hiện nay đều quy định tỷ lệ xuất xứ hàng hóa từ 30% trở lên, nếu cứ trông chờ vào nguồn cung từ Trung quốc, các doanh nghiệp trong nước khó có thể được hưởng thuế suất ưu đãi khi xuất khẩu vào các thị trường khác. 

Về xuất khẩu, mô hình tính toán của CIEM cho thấy Việt Nam phụ thuộc vào thị trường Trung Quốc thấp hơn mức trung bình của ASEAN, tuy nhiên từ 2008 trở lại đây, mức độ phụ thuộc có xu hướng đi lên. Đặc biệt, Việt Nam hầu như không điều chỉnh được nhiều về chỉ số phụ thuộc xuất khẩu trước những rủi ro địa chính trị khu vực đang xảy ra, khác với Philippines vốn cũng đang có những tranh chấp trên Biển Đông với Trung Quốc.

“Philippines đã điều chỉnh cơ cấu thương mại với Trung Quốc nhanh hơn Việt Nam nhằm giảm sự phụ thuộc. Có tới 46 trong 93 ngành của nước này đã giảm hoặc không thay đổi phụ thuộc vào Trung Quốc, con số này của Việt Nam là 40 trên 94 ngành. Số ngành có sự phụ thuộc tăng nhanh trên 200% của Việt nam cũng lớn hơn của Philippines khá nhiều, số ngành được đánh giá là phụ thuộc từ mức trung bình đến rất cao cũng lớn gần gấp đôi so với Philippines”, báo cáo nêu. 

viet-nam-le-thuoc-hang-hoa-trung-quoc-nhieu-nhat-dong-nam-a-1
Việt Nam phải giảm bớt phụ thuộc thương mại vào Trung Quốc. Ảnh: Quý Đoàn.

Phó giám đốc Trung tâm Thông tin Công nghiệp và Thương mại - tiến sĩ Lê Quốc Phương cũng cho hay kinh tế Việt Nam phụ thuộc nhiều vào Trung Quốc, thể hiện qua con số nhập siêu không ngừng tăng qua các năm, từ khoảng 200 triệu USD năm 2001 lên đến 28,9 tỷ USD vào năm 2014, tăng 144 lần. Hàng hóa nhập khẩu từ Trung Quốc trực tiếp phục vụ cho hoạt động sản xuất hàng ngày của các doanh nghiệp, chỉ 20% là hàng tiêu dùng.

“Điều này tác động lâu dài đến khả năng nâng cấp công nghệ của doanh nghiệp bản địa, có khả năng Việt Nam rơi vào hiệu ứng 'giải công nghiệp hóa' sớm khi chỉ xuất khẩu được sang Trung Quốc các hàng hóa dựa vào tài nguyên và nhập khẩu hàng công nghiệp chế tạo thành phẩm. Về lâu dài, sẽ làm suy giảm năng suất của Việt Nam dẫn đến suy giảm tăng trưởng kinh tế trong dài hạn”, ông Phương nhận xét.

Nguyên nhân chính dẫn tới nhập siêu với Trung Quốc được vị này chỉ ra là do hệ thống chính sách định hướng, từ tỷ giá, lãi suất, đất đai, hệ thống động lực…, mà riêng hệ thống chính sách đã làm cho cơ cấu kinh tế sai lệch, không khuyến khích sản xuất trong nước, làm các ngành công nghiệp luôn nằm ở đáy của chuỗi giá trị.

Trong bối cảnh trên, các chuyên gia đã bàn tới các giải pháp nhằm giảm sự phụ thuộc vào Trung Quốc, lường trước khi căng thẳng địa chính trị trên thế giới tiếp tục diễn biến phức tạp và tranh chấp trên Biển Đông có thể xảy ra trong tương lai khiến Trung Quốc áp đặt những hạn chế trong quan hệ thương mại giữa hai nước.

“Hiện nay, Trung Quốc là khách hàng lớn nhất của Việt Nam, nếu Việt Nam không chủ động tìm thị trường mới thì sau khi tình hình xấu đi, kinh tế Việt Nam sẽ gặp rất nhiều khó khăn”, tiến sĩ Lương Văn Khôi - Trưởng ban Kinh tế Thế giới (Trung tâm Thông tin và Dự báo kinh tế - xã hội quốc gia) nhận định.

“Là một nước có độ mở thương mại cao, vai trò của thương mại với tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam là lớn. Do Trung quốc là một đối tác thương mại quan trọng, sự phụ thuộc của tăng trưởng vào thương mại có kéo theo sự phụ thuộc của tăng trưởng vào xuất và nhập khẩu với Trung Quốc hay không? Nếu có, Việt Nam có hy sinh tăng trưởng để giảm sự phụ thuộc?”, chuyên gia của CIEM nêu vấn đề.

Tuy nhiên, theo tiến sĩ Khôi, với tiến trình thỏa thuận và ký kết các hiệp định thương mại tự do với các đối tác khác ngoài Trung Quốc, trong tương lai gần, sự phụ thuộc vào thị trường này sẽ được cải thiện. Ông cho rằng Hiệp định đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương (TPP) sẽ mở ra triển vọng thương mại tốt hơn với Việt Nam, giúp cân bằng được quan hệ thương mại với các khu vực thị trường trọng điểm, tránh phụ thuộc quá mức vào một khu vực thị trường nhất định.

Vị này cũng khuyến nghị Chính phủ cần có chính sách kinh tế thương mại toàn diện để tận dụng những cơ hội từ các hiệp định thương mại mang lại và hạn chế những thách thức đối với nền kinh tế, trong đó chú trọng đến việc giảm nhập khẩu nhóm hàng trung gian, đặc biệt là nhóm hàng bán thành phẩm, nâng cao hàm lượng giá trị gia tăng trong sản phẩm xuất khẩu, nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.

9 khu kinh tế cửa khẩu được tập trung đầu tư

Thủ tướng đồng ý lựa chọn 9 khu kinh tế cửa khẩu trọng điểm để tập trung đầu tư phát triển từ nguồn ngân sách nhà nước giai đoạn 2016-2020.
 
Khu kinh tế cửa khẩu Móng Cái (Quảng Ninh), Đồng Đăng (Lạng Sơn), Lào Cai,  Cao Bằng, Cầu Treo (Hà Tĩnh), Cha Lo (Quảng Bình), Lao Bảo (Quảng Trị), Mộc Bài (Tây Ninh), An Giang nằm trong danh sách này. 

Thủ tướng yêu cầu tập trung phân bổ vốn đầu tư cho 9 khu kinh tế cửa khẩu trọng điểm tối thiểu bằng 70% tổng nguồn vốn hỗ trợ từ ngân sách trung ương trong kế hoạch hàng năm và 5 năm (2016 - 2020).

Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính xây dựng phương án bố trí vốn ngân sách trung ương theo kế hoạch hàng năm và 5 năm (2016 - 2020) cho các khu kinh tế cửa khẩu. Trong đó, Chính phủ nhấn mạnh cần ưu tiên đầu tư các hạng mục công trình có nhu cầu cấp thiết. 

Trước đó, Thủ tướng đã đồng ý lựa chọn 8 nhóm khu kinh tế ven biển trọng điểm để tập trung đầu tư phát triển từ nguồn ngân sách nhà nước giai đoạn 201 -2020 gồm nhóm Khu kinh tế Chu Lai (Quảng Nam), Dung Quất (Quảng Ngãi), Đình Vũ (Hải Phòng), Nghi Sơn (Thanh Hóa), Phú Quốc (Kiên Giang), Vũng Áng (Hà Tĩnh), Nam Phú Yên (Phú Yên), Vân Đồn (Quảng Ninh), Định An (Trà Vinh).
 
Blogger Templates