Pages

Powered by Blogger.

Thursday, 14 July 2016

Ông Trần Đình Thiên: 'Việt Nam không thể vay nợ kiểu Nhật'

Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam cho rằng sở dĩ Chính phủ Nhật chủ yếu nợ trong nước bởi có thể vay lãi thấp với kỳ hạn dài, trong khi đây không phải là thực tế ở Việt Nam.

Theo bản tin nợ công được Bộ Tài chính công bố tuần này, dư nợ Chính phủ đến hết năm 2014 đã lên hơn 1,8 triệu tỷ đồng (gần 86 tỷ USD), tăng gấp đôi so với năm 2010. Cấu trúc vay nợ của Chính phủ cũng đã có nhiều thay đổi, khi tỷ lệ vay nước ngoài chiếm 45%, còn vay trong nước là 55%. Chia sẻ với VnExpress, Tiến sĩ Trần Đình Thiên - Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam cho rằng quá trình tăng nợ nhanh do thay đổi cấu trúc nợ đang đặt ra nhiều vấn đề cần suy nghĩ.
ong-tran-dinh-thien-viet-nam-khong-the-vay-no-kieu-nhat
Tiến sĩ Trần Đình Thiên cho rằng mấu chốt không nằm ở vay dài để giãn nợ mà cần cấu trúc lại chi tiêu.
- Số liệu nợ Chính phủ được Bộ Tài chính công bố đến hết năm 2014 đã ghi nhận con số khoảng 86 tỷ USD và tăng rất nhanh trong những năm gần đây. Ông đánh giá như thế nào về thực trạng này?
Xu hướng nợ tăng nhanh một phần do Việt Nam thay đổi cấu trúc nợ, khi chuyển từ vay nợ nước ngoài về vay trong nước. Không chỉ đóng vai trò chủ yếu mà số nợ vay trong nước cũng đã tăng gần gấp 3 lần trong vòng 4 năm, từ gần 19 tỷ USD năm 2010 lên gần 48 tỷ USD vào năm 2014. Điều đáng lo và rủi ro chính ở việc gia tăng vay nợ trong nước.
- Vì sao ông cho rằng vay nợ trong nước rủi ro hơn?
- Vay trong nước thì lãi suất phải trả cao hơn nước ngoài. Chưa kể khối lượng nợ tăng nhanh, thời gian vay nợ ngắn… tạo ra áp lực trả nợ lớn đối với ngân sách Nhà nước. Thông thường, thời hạn vay nợ nước ngoài là 10-15 năm, giúp chúng ta giãn thời gian trả nợ. Nnhưng khi vay trong nước, thời gian rút ngắn còn một nửa, dù đàm phán gần đây đã kéo lên 6-8 năm thì vẫn là thời hạn ngắn.
Cả ba biến số: tốc độ tăng nợ, mức lãi suất vay cao và thời hạn vay ngắn sẽ tạo áp lực rất lớn lên ngân sách Nhà nước. Đây thực sự là vấn đề và cũng là điểm rủi ro chính mà chúng ta không thể lơ là.
- Khi định hướng lại nguồn vốn, quan điểm được đưa ra là Việt Nam sắp “tốt nghiệp” ODA, khiến vay ưu đãi nước ngoài khó khăn hơn trước, nên vay trong nước sẽ chủ động hơn. Ông nghĩ sao về điều này?
- Tôi không biết chủ động hơn ở khía cạnh nào. Tuy nhiên, vấn đề ở chỗ là nếu không trả được nợ cho dân là sẽ mất uy tín. Ngay cả điều kiện vay, mức lãi suất khi vay nợ trong nước cũng đều cao hơn. Người dân dễ dàng quyết định cho vay, có nghĩa điều kiện vay cũng khắt khe hơn. Quy luật vay trả thôi, anh trả giá cao thì người ta mới sẵn sàng bán.
Nhiều người hay lấy ví dụ và so sánh chuyện vay nợ trong nước của Việt Nam và Nhật Bản, nhưng chúng ta ở vào hoàn cảnh khác họ. Vì sao họ chỉ vay nợ trong nước mà không sụp đổ? Bởi lẽ mức lãi suất vay trong nước ở Nhật là 0%, thời hạn vay nợ dài và quá trình kiểm soát tăng nợ của họ cũng rất chặt chẽ.
Tôi muốn nhấn mạnh rằng, vấn đề không phải là việc hướng vào vay trong nước sẽ dễ dàng hơn như nhiều người vẫn hiểu, mà phải là kiểm soát quá trình tăng nợ và bảo đảm cơ cấu nợ hợp lý .
- Nhưng số tiền trả nợ nước ngoài cũng đã tăng gần 1,4 lần những năm qua. Việc này cần được đánh giá như thế nào?
- Trả nợ nước ngoài tăng gần 1,4 lần ngân sách đương nhiên sẽ tạo ra áp lực rất lớn cho chi ngân sách Nhà nước. Trong khi chúng ta đang rất cần nguồn vốn đầu tư phát triển, nhưng phải dành một khoản chi bắt buộc hằng năm để trả nợ lãi.
Nhưng tỷ lệ trả nợ nước ngoài so với trong nước cũng có chênh lệch khá lớn. Nếu tỷ lệ trả nợ trong kỳ (2010 – 2014) đối với vay nước ngoài chỉ tăng 1,4 lần thì trong nước tăng gần 3 lần, từ 3,6 tỷ USD lên 9,8 tỷ USD. Đây chính là hệ quả của việc chuyển vay nợ nước ngoài về trong nước.
- Như ông vừa đề cập thì việc vay nợ trong nước nhiều đang tạo ra gánh nặng và rủi ro lớn cho ngân sách. Kế sách nào để giảm bớt rủi ro này?
- Theo tôi, việc chuyển cấu trúc nợ vay nước ngoài, quay sang tận dụng vay trong nước với hàm ý vay trong nước an toàn hơn, tiện hơn là không hoàn toàn chính xác. Nên nhớ, thay đổi kỳ hạn vay nợ là tốt nhưng chúng ta đang vay để trả nợ. Có nghĩa là có thay đổi cấu trúc vay thì khối lượng nợ vẫn đang tăng lên, rủi ro tăng lên và kéo theo đó điều kiện vay cũng nghiệt ngã hơn. Tôi vẫn nhắc lại rằng, không phải vay nợ trong nước sẽ dễ dàng mãi.
Chưa kể, khi Chính phủ tăng nguồn vay trong nước, vô tình sẽ trở thành nguồn lực cạnh tranh vốn với doanh nghiệp tư nhân. Trong lúc Chính phủ đang muốn vực khu vực doanh nghiệp này lên, lớn mạnh hơn thì lại cản đường họ.
Điểm then chốt không phải mẹo vay dài để giãn nợ, mà phải cấu trúc lại chi tiêu, cơ chế thực hiện chi tiêu ngân sách và đầu tư công phải thay đổi mới mong kiểm soát được nợ công. Cứ “giăng” món chi ra, rồi thiếu thì lại đi vay, không ổn. Bài toán chi tiêu ngân sách quốc gia cũng giống như chi tiêu gia đình, phải dựa vào nguồn thu nhập, trên cơ sở đó tính toán có nên vay hay không, mức vay bao nhiêu và thỏa thuận điều kiện vay phải là tối thiểu.

VEPR: Huy động 500 tấn vàng trong dân có thể gây cú sốc đầu cơ

Tiến sĩ Nguyễn Đức Thành và các chuyên gia của VEPR cho rằng nếu thực hiện đề xuất huy động vàng, cơ quan quản lý sẽ đi ngược lại các nguyên tắc kinh tế cũng như chủ trương chống vàng hoá, đôla hoá hiện nay.

Viện Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách (VEPR) vừa công bố Báo cáo kinh tế vĩ mô quý II/2016. Báo cáo đề cập đến nhiều nội dung, trong đó có đánh giá về đề xuất huy động 500 tấn vàng (số liệu ước tính) trong dân của Hiệp hội Kinh doanh vàng Việt Nam. Sau đề xuất này, Thủ tướng đã giao NHNN chủ trì nghiên cứu, xem xét vấn đề huy động nguồn lực trong xã hội (bao gồm cả vàng và tiền), tạo nguồn vốn phục vụ tăng trưởng kinh tế.
vepr-huy-dong-500-tan-vang-trong-dan-co-the-gay-cu-soc-dau-co
TS. Nguyễn Đức Thành và các chuyên gia VEPR cảnh báo nhiều hệ luỵ nếu cố tìm cách huy động vàng trong dân. Ảnh: N.M
Trình bày báo cáo tại buổi công bố chiều 14/7, Tiến sĩ Nguyễn Đức Thành - Viện trưởng VEPR - nhận định bản chất của việc huy động vàng là đi ngược với nguyên tắc kinh tế. Theo đó, vàng hiện được cất giữ trong dân mang bản chất như mọi tài sản khác và chỉ ưu việt hơn về việc cất giữ, bảo quản.
"Nếu thực hiện huy động, vàng sẽ mang thêm chức năng là phương tiện lưu thông tương tự như tiền. Khi có thêm chức năng này, nhu cầu về vàng sẽ tăng lên thay vì giảm xuống. Cộng với những kích hoạt khác từ phía cầu như sự kiện Brexit khiến giá vàng thế giới tăng hiện nay, sẽ tạo ra những cú sốc tích trữ, đầu cơ, khiến thị trường bất ổn và dễ tổn thương hơn", báo cáo nhận định. Trên thực tế, từ cuối tháng 6 đến nay, giá vàng trong nước và thế giới đã tăng mạnh.
Theo Tiến sĩ Thành và các chuyên gia VEPR, việc này sẽ dẫn tới hiện tượng vàng hóa trở lại. Điều này cũng đúng với đôla hóa, khi các nhà băng đặt mức lãi suất huy động dương với đồng USD.
Thực tế thời gian qua, NHNN đã dần loại vàng và ngoại tệ ra khỏi quan hệ tín dụng. VEPR cho rằng nhà điều hành cần thực hiện việc này một cách nhất quán, quyết đoán, tránh lặp lại những sai lầm không cần thiết.
"Về dài hạn, ý tưởng này đi ngược lại tiến trình chống vàng hóa, đôla hóa. Vì vậy cần kiên định con đường tách vàng và ngoại tệ (USD) ra khỏi lưu thông, và đưa vào vận hành theo các nguyên tắc của thị trường tài sản", ông Thành nhấn mạnh.
Theo đó, nếu Nhà nước muốn người dân không giữ hoặc giảm giữ vàng thì duy trì lãi suất tiền mặt cao, ổn định. Khi đó, người dân sẽ bán vàng để giữ tiền mặt. Một số ý kiến khác như đánh thuế vàng là sự can thiệp không phù hợp.
Phát biểu tại buổi công bố, Tiến sĩ Lưu Bích Hồ - nguyên Viện trưởng Viện Chiến lược phát triển (Bộ Kế hoạch & Đầu tư) cũng thẳng thắn nêu quan điểm không ủng hộ với việc huy động vàng trong dân. Vị chuyên gia cho rằng việc tìm mọi cách huy động sẽ phải đánh đổi với sự bất ổn của thị trường vàng.
"Nhà nước nên cải cách, thiết lập môi trường đầu tư thuận lợi, để người dân tự đầu tư, chứ không cần thông qua ai. Người dân chưa tin vào thị trường thì sao người ta bỏ vàng ra được. Họ không biết làm cái gì thì mới giữ vàng. Việc huy động đó là điều không thực tế", Tiến sĩ Lưu Bích Hồ nhận xét.
Theo báo cáo của VEPR, tăng trưởng kinh tế quý II tiếp tục gây thất vọng khi chı̉ đạt 5,52%. Lạm phát cũng tăng cao nhất trong 6 năm trở lại đây. Sản xuất nông nghiệp gặp nhiều khó khăn trong khi khu vực dịch vụ vẫn giữ được mức tăng trưởng ổn định. Khu vực khai khoáng có tốc độ tăng trưởng giảm đáng kể. Ngành công nghiệp suy giảm khiế́n tăng trưởng nửa đầu năm không đạt được như kỳ vọng. 
VEPR nhận định Việt Nam sẽ không đạt được mức tăng trưởng 6,7% như kế hoạch đề ra và dự báo chỉ ở mức 6% hoặc có thể thấp hơn. Cơ quan này nhấn mạnh về việc cần tránh tâm lý nôn nóng đạt mục tiêu tăng trưởng cao khi bắt đầu một nhiệm kỳ Chính phủ mới, dẫn tới buông lỏng ổn định vĩ mô, khiến cái giá phải trả sẽ đắt hơn nhiều.
Ngân sách Nhà nước đang tiếp tục khó khăn do hụt các nguồn thu chính. Điều này tạo sức ép khiến Chính phủ phải tăng thu nguồn khác nhằm cân đối ngân sách.
Điểm sáng là thị trường ngoại hối tiếp tục ổn định. NHNN đang có những điều kiện thuận lợi để quản lý tỷ giá một cách chủ động khi tâm lý đầu cơ trên thị trường không còn lớn. Chính phủ cũng đã có bước đi đầu tiên trong việc cải thiện môi trường kinh doanh, mở rộng không gian cho doanh nghiệp tư nhân, khiến số doanh nghiệp thành lập mới tăng trở lại.
 
Blogger Templates