Pages

Powered by Blogger.

Sunday, 11 September 2016

Ngân hàng Thế giới có Giám đốc quốc gia mới tại Việt Nam

Ông Ousmane Dione mang đến Việt Nam trên 20 năm kinh nghiệm lãnh đạo các chương trình đa ngành về nước, phát triển đô thị và môi trường.

Thông tin từ Ngân hàng Thế giới (WB) cho biết, ông Ousmane Dione, quốc tịch Senegal, sẽ chính thức đảm nhiệm vị trí Giám đốc quốc gia mới của cơ quan này tại Việt Nam.
Ông Ousmane Dione đã làm việc cho Ngân hàng Thế giới từ năm 2000 và là chuyên gia hàng đầu về quản lý nguồn nước. Từ đó đến nay, ông đã trải qua nhiều vị trí lãnh đạo, điều hành khác nhau tại Ngân hàng Thế giới ở châu Phi, Mỹ Latin... Trước khi tới Việt Nam, ông Ousmane Dione là Giám đốc ngành nước, phụ trách khu vực Đông Á Thái Bình Dương tại văn phòng Manila (Philippines).
ngan-hang-the-gioi-co-giam-doc-quoc-gia-moi-tai-viet-nam
Ông Ousmane Dione trong lần tiếp kiến nguyên Bộ trưởng Tài nguyên & Môi trường - Nguyễn Minh Quang. Ảnh: WB
Trên cương vị mới của mình, 3 ưu tiên hàng đầu của ông Ousmane là sẽ dẫn dắt quá trình tốt nghiệp IDA của VIệt Nam; tiếp tục phát triển quan hệ đối tác và hợp tác của Ngân hàng Thế giới với chính quyền cấp trung ương và địa phương của Việt Nam. Ông và các cộng sự cũng sẽ đẩy mạnh hợp tác với Chính phủ Việt Nam, các đối tác phát triển nhằm thực hiện tầm nhìn và các khuyến nghị nêu trong Báo cáo Việt Nam 2035.
Hiện vị trí Giám đốc Quốc gia của Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam vẫn do bà Victoria Kwakwa đảm nhiệm. Tuy nhiên, từ tháng 4 vừa qua, Chủ tịch Ngân hàng Thế giới - Jim Yong Kim đã bổ nhiệm bà Kwakwa làm Phó chủ tịch Phụ trách khu vực Đông Á Thái Bình Dương. Trong nhiệm kỳ của bà Kwakwa tại Việt Nam, quan hệ đối tác giữa Ngân hàng Thế giới và Việt Nam đã tăng theo chiều sâu, phù hợp với những thách thức ngày càng phức tạp của một nước thu nhập trung bình mới nổi. 

Thủ tướng: Công nghệ Trung Quốc tốt, sạch thì Việt Nam chào đón

Trước các doanh nghiệp lớn của Trung Quốc, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc khẳng định quan điểm xây dựng môi trường kinh doanh cởi mở, minh bạch; coi thành công của nhà đầu tư là thành công của Việt Nam.

Thông điệp được Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đưa ra khi chủ trì Hội nghị bàn tròn đối thoại với giám đốc điều hành (CEO) của các doanh nghiệp hàng đầu Trung Quốc chiều 11/9, tại tỉnh Quảng Tây của nước này.
Cho rằng việc xuất nhập khẩu là theo nhu cầu của các doanh nghiệp mỗi nước, Thủ tướng Việt Nam nhấn mạnh định hướng của nền kinh tế là cân bằng cán cân xuất nhập khẩu, bảo đảm phát triển bền vững. “Trước đây nhập siêu của Việt Nam với Trung Quốc lớn thì xu hướng sẽ giảm xuống và thực tế đã giảm rõ rệt trong năm nay là xu hướng đáng mừng”, Thủ tướng nói.
thu-tuong-cong-nghe-trung-quoc-tot-sach-thi-viet-nam-chao-don
Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc khẳng định, Việt Nam thu hút đầu tư nhưng chỉ đón nhận công nghệ thiết bị hiện đại, bảo vệ môi trường. Ảnh: VGP
Thủ tướng cũng nhấn mạnh quyết tâm xây dựng Chính phủ liêm khiết, kiến tạo; tập trung hoàn thiện thể chế, đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh để nâng cao năng lực cạnh tranh. Các cấp chính quyền ở Việt Nam đều trực tiếp lắng nghe ý kiến của nhà đầu tư nước ngoài phản ánh khó khăn như thế nào để cùng tháo gỡ.
“Bây giờ nhiều giấy phép ở Việt Nam chỉ cấp một ngày là xong, chậm nhất không đến 5 ngày. Ngày trước là tiền kiểm, còn gây khó khăn cho doanh nghiệp thì nay hậu kiểm là chính”, Thủ tướng nêu rõ.
Người đứng đầu Chính phủ cũng khẳng định chủ trương coi thắng lợi, thành công của các nhà đầu tư là thành công của các cấp chính quyền. “Tuy nhiên, chúng tôi cũng lưu ý các nhà đầu tư bảo vệ môi trường cho tốt, không đầu tư bằng bất cứ giá nào, sử dụng công nghệ, thiết bị hiện đại, không ảnh hưởng đến đời sống người dân”, Thủ tướng tiếp lời và cho biết “Chính phủ, các cấp chính quyền, nhân dân Việt Nam vui mừng đón nhận những xí nghiệp, công ty làm ăn tốt, công nghệ thiết bị bảo vệ môi trường tốt vào Việt Nam”. 
thu-tuong-cong-nghe-trung-quoc-tot-sach-thi-viet-nam-chao-don-1
Quang cảnh Hội nghị đối thoại giữa Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc và các CEO doanh nghiệp hàng đầu Trung Quốc. Ảnh: VGP
Bên cạnh đó, Thủ tướng cũng lưu ý một số công trình, dự án của doanh nghiệp, nhà đầu tư Trung Quốc ở Việt Nam còn chậm tiến độ. Ông cho biết sẽ trao đổi với các nhà lãnh đạo Trung Quốc để làm sâu sắc hơn nữa quan hệ hợp tác giữa hai nước để tạo thuận lợi cho doanh nghiệp Trung Quốc mở rộng hợp tác thương mại, đầu tư vào Việt Nam, nhất là trong các lĩnh vực xây dựng, công nghiệp hỗ trợ, điện, năng lượng tái tạo... đặc biệt là đối với mặt hàng nông, lâm, thủy hải sản của Việt Nam.
Tại cuộc đối thoại, lãnh đạo các doanh nghiệp lớn của Trung Quốc nêu lên nhiều vấn đề còn băn khoăn trong các lĩnh vực như ngân hàng, dệt may, năng lượng… Đơn cử trong lĩnh vực năng lượng, đại diện Công ty lưới điện Phương Nam Trung Quốc, doanh nghiệp đã đầu tư triển khai dự án Nhiệt điện Vĩnh Tân đặt câu hỏi về những chính sách ưu tiên cho lĩnh vực này.
Đáp lại, Bộ trưởng Công Thương Trần Tuấn Anh cho biết nhu cầu về năng lượng của Việt Nam tăng trưởng 10-12% một năm. Do đó, nguồn điện cần được ưu tiên phát triển, trong đó có nguồn năng lượng tái tạo.
“Mục tiêu của Việt Nam đến năm 2030 nâng tỷ trọng năng lượng tái tạo lên 20%, việc phát triển năng lượng tái tạo ở Việt Nam như điện gió, mặt trời có dư địa rất lớn. Chính phủ Việt Nam rất quan tâm đến năng lượng tái tạo”, Bộ trưởng Trần Tuấn Anh nói.

Tuesday, 30 August 2016

Bí thư Thăng cam kết tạo thuận lợi 'chưa từng có' cho doanh nghiệp

Cam kết thành phố sẽ không dung thứ cho sự trì trệ, xóa bỏ cò dịch vụ, Bí thư TP HCM Đinh La Thăng khẳng định sẽ đồng hành cùng doanh nghiệp đổi mới.

Tại buổi giao lưu “Doanh nghiệp đồng hành cùng TP HCM đổi mới” lần 1 diễn ra sáng 27/8, đáp lại sự cam kết đổi mới của hơn 300 doanh nghiệp, đại diện hơn 170.000 doanh nghiệp tại địa bàn, Bí thư Đinh La Thăng khẳng định, sẽ tạo những điều kiện thuận lợi "chưa từng có" để doanh nghiệp phát triển.
Một trong những yếu tố đầu tiên để làm được điều này, theo ông, chính là cam kết cải cách hành chính, xây dựng chính quyền liêm chính, kiến tạo, phục vụ nhân dân. 
“Thành phố không dung thứ cho sự trì trệ, tiêu cực, thiếu cảm xúc của những người tiến hành dịch vụ công. Tôi đưa ra cảnh báo và yêu cầu nghiêm khắc với các cán bộ, công chức, viên chức phải làm tốt công việc của mình để phục vụ người dân và doanh nghiệp không điều kiện. Lãnh đạo thành phố còn có một mong muốn xa hơn là xóa bỏ hoàn toàn cụm từ “cò dịch vụ” như một vấn đề đáng xấu hổ”, ông Thăng nhắc nhở.
bi-thu-thang-cam-ket-tao-thuan-loi-chua-tung-co-cho-doanh-nghiep
Các chuyên gia và doanh nhân cùng cam kết, hiến kế đồng hành cùng TP HCM đổi mới. Ảnh: Viễn Thông
Ở góc độ khác, doanh nhân Nguyễn Hữu Thái Hòa góp ý thành phố tham khảo cách làm của tỉnh Bình Dương là xóa bỏ ‘cò dịch vụ’ mang tính tiêu cực bằng cách thành lập một đơn vị chính thức, chuyên xử lý dịch vụ liên quan đến thủ tục hành chính. Vị này nhận định, cơ chế của các tỉnh thành trong khu vực đang dần thoáng hơn và thu hút các doanh nghiệp hơn.
“Phải nhìn nhận rằng chúng ta đang tụt hậu. Chúng tôi đi đến Long An hay Bình Dương thì lại thấy thích hơn vì cơ chế đang thoáng và cởi mở hơn TP HCM”, ông Hoà thẳng thắn.
Về mục tiêu đưa TP HCM  trở thành trung tâm lớn về kinh tế, tài chính, thương mại, đầu tư, giáo dục đào tạo hàng đầu khu vực, Bí thư Thăng cho rằng, lãnh đạo thành phố và doanh nghiệp nên lắng nghe lẫn nhau để cùng bắt tay hiện thực hóa nó. “Tôi cổ vũ sự thẳng thắn, nhờ thẳng thắn, chân tình mà chúng tôi mới biết được các doanh nghiệp đang cần gì”, ông chia sẻ.
Chuyên gia kinh tế - tiến sĩ Vũ Đình Ánh nhận xét, định hướng đưa Thành phố trở thành một trung tâm dịch vụ lớn ở khu vực là hợp lý. Tuy nhiên, cần xác định chọn những ngành dịch vụ nào để biến nó thành mũi nhọn và tập trung đầu tư. Ngoài ra, ông cho rằng, lực lượng Việt kiều cũng là một thành phần mạnh mẽ và sẽ có đóng góp đáng kể nếu Thành phố tạo được cơ hội cho họ tham gia.
“TP HCM khác các địa phương là có đội ngũ Việt kiều đông đảo và giàu tiềm năng. Đó là điều mà các địa phương còn lại có muốn cũng không được”, chuyên gia này nhận định.
Ông Thái Tuấn Chí – Chủ tịch HĐQT Công ty cổ phần tập đoàn Thái Tuấn  đề xuất TP HCM nên vận động để trở thành địa điểm đặt văn phòng chi nhánh của hiệp hội các quốc gia thành viên Hiệp định thương mại xuyên Thái Bình Dương (TPP). Ông cho rằng, nếu điều này thành sự thật thì thành phố sẽ có cơ hội trở thành trung tâm thật sự. Vấn đề hiện nay là để Thành phố được các nước công nhận thì các thành viên khối TPP sẽ yêu cầu TP HCM cam kết sự thay đổi, đây cũng là điều kiện để lãnh đạo thành phố thay đổi mạnh mẽ hơn nữa trong giai đoạn bứt phá mới.
Liên quan đến mục tiêu có được 500.000 doanh nghiệp đến 2020, doanh nhân Nguyễn Hữu Thái Hòa và ông Nguyễn Tuấn Quỳnh – Phó chủ tịch Hội doanh nghiệp trẻ TP HCM kêu gọi Thành phố quan tâm hơn đến cơ chế chính sách cho lực lượng khởi nghiệp, nhất là thế hệ doanh nhân 9x. Theo ông Hòa, các lãnh đạo của những tập đoàn lớn trong nước hiện đa phần đã gần đến tuổi hưu, là thế hệ học tập từ Nga về và đang khó khăn trong việc phát triển lực lượng kế thừa. Trong khi đó, ông tin tưởng, trong tương lai, nếu bồi dưỡng tốt thì thế hệ doanh nhân 9x có thể hình thành được đâu đó 20 tập đoàn mới, trẻ trung và có tầm cỡ để đi ra thế giới. 
“Hiện nay có một thực trạng là không ít bạn trẻ tài năng không khởi nghiệp tại TP HCM mà đi ra nước ngoài. Đó là điều đáng suy nghĩ. Trong quá trình khởi nghiệp, chắc chắn sẽ có những sai sót. Điều này rất mong sự chia sẻ của lãnh đạo thành phố chứ không chỉ đơn thuần phát hiện và phạt”, ông Nguyễn Tuấn Quỳnh chia sẻ tâm tư.

Singapore soán ngôi á quân FDI vào Việt Nam

Hàn Quốc vẫn giữ vững ngôi đầu với 3,84 tỷ USD vốn đầu tư trực tiếp vào Việt Nam, trong khi Singapore đã vượt qua Nhật Bản với 1,37 tỷ USD.

Số liệu từ Tổng cục Thống kê (Bộ Kế hoạch & Đầu tư) cho thấy từ đầu năm đến 20/8/2016, cả nước có 1.619 dự án mới có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đã được cấp giấy chứng nhận đăng ký, với tổng vốn đăng ký 9,79 tỷ USD, tăng 24,3% so với cùng kỳ. Tổng vốn đăng ký tăng thêm là 4,57 tỷ USD, ít hơn 16,3% so với cùng thời điểm 2015.
Như vậy, tổng vốn đăng ký của các dự án cấp mới và vốn bổ sung trong 8 tháng năm nay đạt gần 14,4 tỷ USD, tăng 7,7% so với cùng kỳ. Vốn FDI thực hiện 8 tháng ước tính đạt 9,8 tỷ USD, tăng 8,9%.
singapore-soan-ngoi-a-quan-fdi-vao-viet-nam
Singapore vươn lên vị trí thứ 2 về đầu tư vốn FDI vào Việt Nam trong 8 tháng đầu năm 2016.
Trong số 56 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án FDI cấp mới tại Việt Nam, Hàn Quốc vẫn đứng đầu với 3,8 tỷ USD là nhà đầu tư lớn nhất, chiếm 39,2% tổng vốn đăng ký cấp mới.
Vượt qua Nhật Bản, Singapore chiếm vị trí thứ 2 với 1,37 tỷ USD (chiếm 14%), kế đến là Hong Kong (Trung Quốc) với số vốn cấp mới 818 triệu USD, chiếm 8,4%... Sau một thời gian dài giữ vị trí đầu, Nhật Bản đã tụt xuống vị trí thứ 6 trong số quốc gia có dự án FDI cấp mới vào Việt Nam, chỉ với 552 triệu USD.
19 lĩnh vực thu hút được các nhà đầu tư nước ngoài rót vốn vào Việt Nam trong 8 tháng, trong đó công nghiệp chế biến, chế tạo là ngành thu hút nhiều vốn nhất, với số vốn đăng ký của các dự án được cấp phép mới đạt 6,7 tỷ USD, chiếm 68,7% tổng vốn đăng ký cấp mới. Ngành bất động sản ở đứng thứ 2 với 859 triệu USD, chiếm 8,8%.
Nếu tính cả vốn đăng ký bổ sung của các dự án đã cấp phép từ các năm trước, tổng vốn FDI mà các nhà đầu tư đã "đổ" vào lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo đạt hơn 10,5 tỷ USD, chiếm 73,3% tổng vốn đăng ký. Ngành bất động sản đạt 836 triệu USD.
Nhà đầu tư nước ngoài đã đổ vốn vào 47 tỉnh, thành phố. Hải Phòng vẫn là địa phương thu hút được sự quan tâm của các nhà đầu tư nhất, với số vốn FDI đăng ký lên tới 1,86 tỷ USD, chiếm 19% tổng vốn đăng ký cấp mới; tiếp đến là Hà Nội 964 triệu USD, Bình Dương 898 triệu USD…. 

Thursday, 14 July 2016

Ông Trần Đình Thiên: 'Việt Nam không thể vay nợ kiểu Nhật'

Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam cho rằng sở dĩ Chính phủ Nhật chủ yếu nợ trong nước bởi có thể vay lãi thấp với kỳ hạn dài, trong khi đây không phải là thực tế ở Việt Nam.

Theo bản tin nợ công được Bộ Tài chính công bố tuần này, dư nợ Chính phủ đến hết năm 2014 đã lên hơn 1,8 triệu tỷ đồng (gần 86 tỷ USD), tăng gấp đôi so với năm 2010. Cấu trúc vay nợ của Chính phủ cũng đã có nhiều thay đổi, khi tỷ lệ vay nước ngoài chiếm 45%, còn vay trong nước là 55%. Chia sẻ với VnExpress, Tiến sĩ Trần Đình Thiên - Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam cho rằng quá trình tăng nợ nhanh do thay đổi cấu trúc nợ đang đặt ra nhiều vấn đề cần suy nghĩ.
ong-tran-dinh-thien-viet-nam-khong-the-vay-no-kieu-nhat
Tiến sĩ Trần Đình Thiên cho rằng mấu chốt không nằm ở vay dài để giãn nợ mà cần cấu trúc lại chi tiêu.
- Số liệu nợ Chính phủ được Bộ Tài chính công bố đến hết năm 2014 đã ghi nhận con số khoảng 86 tỷ USD và tăng rất nhanh trong những năm gần đây. Ông đánh giá như thế nào về thực trạng này?
Xu hướng nợ tăng nhanh một phần do Việt Nam thay đổi cấu trúc nợ, khi chuyển từ vay nợ nước ngoài về vay trong nước. Không chỉ đóng vai trò chủ yếu mà số nợ vay trong nước cũng đã tăng gần gấp 3 lần trong vòng 4 năm, từ gần 19 tỷ USD năm 2010 lên gần 48 tỷ USD vào năm 2014. Điều đáng lo và rủi ro chính ở việc gia tăng vay nợ trong nước.
- Vì sao ông cho rằng vay nợ trong nước rủi ro hơn?
- Vay trong nước thì lãi suất phải trả cao hơn nước ngoài. Chưa kể khối lượng nợ tăng nhanh, thời gian vay nợ ngắn… tạo ra áp lực trả nợ lớn đối với ngân sách Nhà nước. Thông thường, thời hạn vay nợ nước ngoài là 10-15 năm, giúp chúng ta giãn thời gian trả nợ. Nnhưng khi vay trong nước, thời gian rút ngắn còn một nửa, dù đàm phán gần đây đã kéo lên 6-8 năm thì vẫn là thời hạn ngắn.
Cả ba biến số: tốc độ tăng nợ, mức lãi suất vay cao và thời hạn vay ngắn sẽ tạo áp lực rất lớn lên ngân sách Nhà nước. Đây thực sự là vấn đề và cũng là điểm rủi ro chính mà chúng ta không thể lơ là.
- Khi định hướng lại nguồn vốn, quan điểm được đưa ra là Việt Nam sắp “tốt nghiệp” ODA, khiến vay ưu đãi nước ngoài khó khăn hơn trước, nên vay trong nước sẽ chủ động hơn. Ông nghĩ sao về điều này?
- Tôi không biết chủ động hơn ở khía cạnh nào. Tuy nhiên, vấn đề ở chỗ là nếu không trả được nợ cho dân là sẽ mất uy tín. Ngay cả điều kiện vay, mức lãi suất khi vay nợ trong nước cũng đều cao hơn. Người dân dễ dàng quyết định cho vay, có nghĩa điều kiện vay cũng khắt khe hơn. Quy luật vay trả thôi, anh trả giá cao thì người ta mới sẵn sàng bán.
Nhiều người hay lấy ví dụ và so sánh chuyện vay nợ trong nước của Việt Nam và Nhật Bản, nhưng chúng ta ở vào hoàn cảnh khác họ. Vì sao họ chỉ vay nợ trong nước mà không sụp đổ? Bởi lẽ mức lãi suất vay trong nước ở Nhật là 0%, thời hạn vay nợ dài và quá trình kiểm soát tăng nợ của họ cũng rất chặt chẽ.
Tôi muốn nhấn mạnh rằng, vấn đề không phải là việc hướng vào vay trong nước sẽ dễ dàng hơn như nhiều người vẫn hiểu, mà phải là kiểm soát quá trình tăng nợ và bảo đảm cơ cấu nợ hợp lý .
- Nhưng số tiền trả nợ nước ngoài cũng đã tăng gần 1,4 lần những năm qua. Việc này cần được đánh giá như thế nào?
- Trả nợ nước ngoài tăng gần 1,4 lần ngân sách đương nhiên sẽ tạo ra áp lực rất lớn cho chi ngân sách Nhà nước. Trong khi chúng ta đang rất cần nguồn vốn đầu tư phát triển, nhưng phải dành một khoản chi bắt buộc hằng năm để trả nợ lãi.
Nhưng tỷ lệ trả nợ nước ngoài so với trong nước cũng có chênh lệch khá lớn. Nếu tỷ lệ trả nợ trong kỳ (2010 – 2014) đối với vay nước ngoài chỉ tăng 1,4 lần thì trong nước tăng gần 3 lần, từ 3,6 tỷ USD lên 9,8 tỷ USD. Đây chính là hệ quả của việc chuyển vay nợ nước ngoài về trong nước.
- Như ông vừa đề cập thì việc vay nợ trong nước nhiều đang tạo ra gánh nặng và rủi ro lớn cho ngân sách. Kế sách nào để giảm bớt rủi ro này?
- Theo tôi, việc chuyển cấu trúc nợ vay nước ngoài, quay sang tận dụng vay trong nước với hàm ý vay trong nước an toàn hơn, tiện hơn là không hoàn toàn chính xác. Nên nhớ, thay đổi kỳ hạn vay nợ là tốt nhưng chúng ta đang vay để trả nợ. Có nghĩa là có thay đổi cấu trúc vay thì khối lượng nợ vẫn đang tăng lên, rủi ro tăng lên và kéo theo đó điều kiện vay cũng nghiệt ngã hơn. Tôi vẫn nhắc lại rằng, không phải vay nợ trong nước sẽ dễ dàng mãi.
Chưa kể, khi Chính phủ tăng nguồn vay trong nước, vô tình sẽ trở thành nguồn lực cạnh tranh vốn với doanh nghiệp tư nhân. Trong lúc Chính phủ đang muốn vực khu vực doanh nghiệp này lên, lớn mạnh hơn thì lại cản đường họ.
Điểm then chốt không phải mẹo vay dài để giãn nợ, mà phải cấu trúc lại chi tiêu, cơ chế thực hiện chi tiêu ngân sách và đầu tư công phải thay đổi mới mong kiểm soát được nợ công. Cứ “giăng” món chi ra, rồi thiếu thì lại đi vay, không ổn. Bài toán chi tiêu ngân sách quốc gia cũng giống như chi tiêu gia đình, phải dựa vào nguồn thu nhập, trên cơ sở đó tính toán có nên vay hay không, mức vay bao nhiêu và thỏa thuận điều kiện vay phải là tối thiểu.

VEPR: Huy động 500 tấn vàng trong dân có thể gây cú sốc đầu cơ

Tiến sĩ Nguyễn Đức Thành và các chuyên gia của VEPR cho rằng nếu thực hiện đề xuất huy động vàng, cơ quan quản lý sẽ đi ngược lại các nguyên tắc kinh tế cũng như chủ trương chống vàng hoá, đôla hoá hiện nay.

Viện Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách (VEPR) vừa công bố Báo cáo kinh tế vĩ mô quý II/2016. Báo cáo đề cập đến nhiều nội dung, trong đó có đánh giá về đề xuất huy động 500 tấn vàng (số liệu ước tính) trong dân của Hiệp hội Kinh doanh vàng Việt Nam. Sau đề xuất này, Thủ tướng đã giao NHNN chủ trì nghiên cứu, xem xét vấn đề huy động nguồn lực trong xã hội (bao gồm cả vàng và tiền), tạo nguồn vốn phục vụ tăng trưởng kinh tế.
vepr-huy-dong-500-tan-vang-trong-dan-co-the-gay-cu-soc-dau-co
TS. Nguyễn Đức Thành và các chuyên gia VEPR cảnh báo nhiều hệ luỵ nếu cố tìm cách huy động vàng trong dân. Ảnh: N.M
Trình bày báo cáo tại buổi công bố chiều 14/7, Tiến sĩ Nguyễn Đức Thành - Viện trưởng VEPR - nhận định bản chất của việc huy động vàng là đi ngược với nguyên tắc kinh tế. Theo đó, vàng hiện được cất giữ trong dân mang bản chất như mọi tài sản khác và chỉ ưu việt hơn về việc cất giữ, bảo quản.
"Nếu thực hiện huy động, vàng sẽ mang thêm chức năng là phương tiện lưu thông tương tự như tiền. Khi có thêm chức năng này, nhu cầu về vàng sẽ tăng lên thay vì giảm xuống. Cộng với những kích hoạt khác từ phía cầu như sự kiện Brexit khiến giá vàng thế giới tăng hiện nay, sẽ tạo ra những cú sốc tích trữ, đầu cơ, khiến thị trường bất ổn và dễ tổn thương hơn", báo cáo nhận định. Trên thực tế, từ cuối tháng 6 đến nay, giá vàng trong nước và thế giới đã tăng mạnh.
Theo Tiến sĩ Thành và các chuyên gia VEPR, việc này sẽ dẫn tới hiện tượng vàng hóa trở lại. Điều này cũng đúng với đôla hóa, khi các nhà băng đặt mức lãi suất huy động dương với đồng USD.
Thực tế thời gian qua, NHNN đã dần loại vàng và ngoại tệ ra khỏi quan hệ tín dụng. VEPR cho rằng nhà điều hành cần thực hiện việc này một cách nhất quán, quyết đoán, tránh lặp lại những sai lầm không cần thiết.
"Về dài hạn, ý tưởng này đi ngược lại tiến trình chống vàng hóa, đôla hóa. Vì vậy cần kiên định con đường tách vàng và ngoại tệ (USD) ra khỏi lưu thông, và đưa vào vận hành theo các nguyên tắc của thị trường tài sản", ông Thành nhấn mạnh.
Theo đó, nếu Nhà nước muốn người dân không giữ hoặc giảm giữ vàng thì duy trì lãi suất tiền mặt cao, ổn định. Khi đó, người dân sẽ bán vàng để giữ tiền mặt. Một số ý kiến khác như đánh thuế vàng là sự can thiệp không phù hợp.
Phát biểu tại buổi công bố, Tiến sĩ Lưu Bích Hồ - nguyên Viện trưởng Viện Chiến lược phát triển (Bộ Kế hoạch & Đầu tư) cũng thẳng thắn nêu quan điểm không ủng hộ với việc huy động vàng trong dân. Vị chuyên gia cho rằng việc tìm mọi cách huy động sẽ phải đánh đổi với sự bất ổn của thị trường vàng.
"Nhà nước nên cải cách, thiết lập môi trường đầu tư thuận lợi, để người dân tự đầu tư, chứ không cần thông qua ai. Người dân chưa tin vào thị trường thì sao người ta bỏ vàng ra được. Họ không biết làm cái gì thì mới giữ vàng. Việc huy động đó là điều không thực tế", Tiến sĩ Lưu Bích Hồ nhận xét.
Theo báo cáo của VEPR, tăng trưởng kinh tế quý II tiếp tục gây thất vọng khi chı̉ đạt 5,52%. Lạm phát cũng tăng cao nhất trong 6 năm trở lại đây. Sản xuất nông nghiệp gặp nhiều khó khăn trong khi khu vực dịch vụ vẫn giữ được mức tăng trưởng ổn định. Khu vực khai khoáng có tốc độ tăng trưởng giảm đáng kể. Ngành công nghiệp suy giảm khiế́n tăng trưởng nửa đầu năm không đạt được như kỳ vọng. 
VEPR nhận định Việt Nam sẽ không đạt được mức tăng trưởng 6,7% như kế hoạch đề ra và dự báo chỉ ở mức 6% hoặc có thể thấp hơn. Cơ quan này nhấn mạnh về việc cần tránh tâm lý nôn nóng đạt mục tiêu tăng trưởng cao khi bắt đầu một nhiệm kỳ Chính phủ mới, dẫn tới buông lỏng ổn định vĩ mô, khiến cái giá phải trả sẽ đắt hơn nhiều.
Ngân sách Nhà nước đang tiếp tục khó khăn do hụt các nguồn thu chính. Điều này tạo sức ép khiến Chính phủ phải tăng thu nguồn khác nhằm cân đối ngân sách.
Điểm sáng là thị trường ngoại hối tiếp tục ổn định. NHNN đang có những điều kiện thuận lợi để quản lý tỷ giá một cách chủ động khi tâm lý đầu cơ trên thị trường không còn lớn. Chính phủ cũng đã có bước đi đầu tiên trong việc cải thiện môi trường kinh doanh, mở rộng không gian cho doanh nghiệp tư nhân, khiến số doanh nghiệp thành lập mới tăng trở lại.

Sunday, 29 May 2016

Lao động công nghệ cao sẽ được giảm 50% thuế thu nhập cá nhân

Để thúc đẩy phát triển doanh nghiệp trong 5 năm tới, Bộ Tài chính sẽ nghiên cứu giảm thuế thu nhập đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa, theo Nghị quyết vừa được Chính phủ ban hành.
Chính phủ vừa ban hành Nghị quyết số 35 về hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp đến năm 2020, trong đó khẳng định nguyên tắc Nhà nước bảo vệ quyền sở hữu tài sản hợp pháp và quyền tự do kinh doanh theo pháp luật. Doanh nghiệp có quyền kinh doanh những ngành, nghề mà pháp luật không cấm.
Nghị quyết cũng đưa ra một số nhiệm vụ và giải pháp, trong đó nhấn mạnh việc cải cách hành chính, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp.
Trên cơ sở đó, Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan liên quan xây dựng, báo cáo Chính phủ để trình Quốc hội nghị quyết tháo gỡ khó khăn về thuế cho doanh nghiệp ngay trong năm 2016 và đề xuất giảm thuế thu nhập doanh nghiệp cho các đơn vị quy mô nhỏ và vừa.
Cơ quan này cũng sẽ nghiên cứu, đề xuất thực hiện bù trừ thu nhập từ hoạt động chuyển nhượng bất động sản của doanh nghiệp với thu nhập từ hoạt động sản xuất kinh doanh (bù trừ hai chiều), giảm 50% thuế thu nhập cá nhân đối với lao động trong một số lĩnh vực: Công nghệ thông tin thuộc lĩnh vực công nghệ cao, ứng dụng công nghệ cao trong lĩnh vực nông nghiệp, chế biến nông sản…
Bên cạnh đó, cơ quan quản lý sẽ rà soát các quy định pháp luật về đất đai theo hướng điều chỉnh giảm tiền thuê đất, chi phí chuyển đổi mục đích sử dụng đất và các chi phí khác của doanh nghiệp; rà soát, điều chỉnh mức phí đường bộ, phí BOT; đánh giá và đề xuất mức điều chỉnh hợp lý để giúp doanh nghiệp giảm chi phí, đặc biệt là doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ vận tải.
Nghị quyết của Chính phủ cũng đặt ra yêu cầu rà soát, sửa đổi quy định về các loại thuế, quản lý thuế, hải quan theo hướng liên thông giữa các Bộ, cơ quan liên quan để giảm thủ tục, thời gian và chi phí thực hiện…
Nghị quyết 35 của Chính phủ đề ra mục tiêu đến năm 2020, cả nước có ít nhất một triệu doanh nghiệp hoạt động, trong đó có các doanh nghiệp quy mô lớn, nguồn lực mạnh. Khu vực tư nhân Việt Nam đóng góp khoảng 48-49% GDP, khoảng 49% tổng vốn đầu tư toàn xã hội.
Chính phủ cũng mong muốn yếu tố năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) đóng góp khoảng 30-35% GDP. Năng suất lao động xã hội tăng khoảng 5% một năm. Hằng năm, có khoảng 30-35% doanh nghiệp Việt Nam có hoạt động đổi mới sáng tạo.

Ngân sách bội chi 3 tỷ USD sau 5 tháng

Bội chi 5 tháng đã tăng lên 66.400 tỷ đồng trong bối cảnh ngân sách phải chi trả nợ và viện trợ khoảng 55.000 tỷ đồng.
Theo báo cáo của Tổng cục Thống kê, thu ngân sách 5 tháng đạt 346.200 tỷ đồng, bằng 34% dự toán năm, trong đó thu nội địa đạt 284.200 tỷ đồng, thu từ dầu thô 13.900 tỷ đồng, từ xuất - nhập khẩu đạt 47.800 tỷ đồng.
Trong khi đó, tổng chi đạt 412.600 tỷ đồng, bằng 32,4% dự toán năm. Ngân sách chỉ có thể dành 64.300 tỷ đồng chi cho đầu tư phát triển, trong khi chi cho kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, quản lý hành chính hết 293.400 tỷ đồng. Do nợ công tăng cao khiến nghĩa vụ trả nợ cũng đè nặng. Ngân sách đã phải chi tới 55.000 tỷ đồng để trả nợ và viện trợ.
Như vậy, trong 5 tháng đầu năm, Việt Nam đã bội chi ngân sách 66.400 tỷ đồng (3 tỷ USD). Đây là mức bội chi tương đối lớn trong bối cảnh các hàng rào thuế quan đang dần được cắt giảm, thu ngân sách ngày càng khó khăn. Bội chi cao cũng một lần nữa đặt nặng áp lực lên nợ công.
Ông Sandeep - Chuyên gia của Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam cho rằng, việc dành quá nhiều tiền ngân sách để trả nợ sẽ tạo ra một rủi ro lớn cho việc đầu tư, hạn chế nguồn tiền đầu tư phát triển kinh tế. Nếu nghĩa vụ trả nợ nhiều sẽ gây rủi ro cho những khoản chi tạo ra năng suất lao động, giảm chi vào giáo dục, y tế và các lĩnh vực khác. Vì vậy, Chính phủ Việt Nam cần ổn định chi tiêu thường xuyên, có phương án thu chi ngân sách hợp lý.
Dự báo của Ngân hàng Thế giới đến năm 2016, nợ công của Việt Nam sẽ tăng lên mức 63,8% GDP, năm 2017 là 64,4%, năm 2018 lên 64,7%. Như vậy, nợ công của Việt Nam sẽ chạm trần mức khả năng trả nợ của Chính phủ là 65%.
Báo cáo kinh tế vĩ mô quý I/2016 của Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (CIEM) cũng nhận định Việt Nam không chỉ là nước có mức thâm hụt ngân sách lớn, mà tỷ lệ nợ công/GDP cũng thuộc diện cao nhất trong khu vực ASEAN.
CIEM dẫn lại số liệu của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) - Triển vọng kinh tế thế giới (WEO), năm 2015, thâm hụt ngân sách của Việt Nam là 6,9% GDP, trong khi của Thái Lan là 1,2% GDP, Indonesia 2,3% GDP, Philippines 0,12% GDP và Campuchia 2% GDP.
Tổ chức này dự báo, đến năm 2020, mức bội chi so với GDP của Việt Nam vẫn cao hơn nhiều so với các nước ASEAN và là nước duy nhất có nợ công/GDP tiếp tục tăng đến gần 68% GDP năm 2020.
Từ đầu năm 2016, Bộ Tài chính đã dự báo thu ngân sách năm nay sẽ gặp nhiều khó khăn do giá dầu thô vẫn chưa hồi phục, tham gia các FTA nên cắt giảm nhiều loại thuế. Dự báo, năm 2016 tổng thu ngân sách đạt hơn một triệu tỷ đồng, tổng chi là 1,27 triệu tỷ đồng, bội chi 254.000 tỷ đồng (4,95% GDP).

Wednesday, 30 March 2016

Hạn hán, ngập mặn khiến nông nghiệp Việt Nam tăng trưởng âm

Lần đầu tiên sau nhiều năm, lĩnh vực được coi là điểm tựa của nền kinh tế rơi vào trạng thái suy giảm, khiến GDP quý I chỉ tăng 5,46%, thấp hơn nhiều so với cùng kỳ.
Số liệu nêu trên được Tổng cục Thống kê (Bộ Kế hoạch & Đầu tư) công bố tại cuộc họp báo về GDP và lao động - việc làm quý I/2016 chiều 25/3. Trong 3 tháng đầu năm, GDP cả nước có dấu hiệu chững lại khi chỉ tăng 5,46%, thấp hơn mức 6,12% cùng kỳ 2015 cũng như con số 5,9% của năm đầu nhiệm kỳ 2011-2015.
Khu vực Nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tăng trưởng âm, giảm 1,23%. Trong đó, ngành nông nghiệp giảm mạnh nhất là 2,69%. Lâm nghiệp và thuỷ sản dù tăng trưởng lần lượt 6,24% và 2,12% nhưng không đủ lực để kéo toàn bộ ngành khỏi suy thoái, do quy mô nông nghiệp vẫn chiếm 70% cơ cấu.
han-han-ngap-man-khien-nong-nghiep-viet-nam-tang-truong-am
Hạn hán là một trong những nguyên nhân khiến nông nghiệp Việt Nam tăng trưởng âm. Ảnh: VNA
Ông Nguyễn Bích Lâm - Tổng Cục trưởng Tổng cục Thống kê, nông nghiệp tăng trưởng âm là do hiện tượng El Nino kéo dài suốt từ cuối năm ngoái đến nay, gây ra tình trạng hạn hán ở tỉnh miền Trung, Tây Nguyên và xâm nhập mặn ở các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long… Sản lượng lúa Đồng bằng sông Cửu Long ước giảm khoảng 700.000 tấn so với cùng kỳ. Sản lượng cây trồng vụ Đông ở miền Bắc cũng đạt thấp.
Tuy vậy, trả lời câu hỏi của VnExpress về việc lượng hóa ảnh hưởng trực tiếp của hạn hán và xâm nhập mặn đến tăng trưởng kinh tế quý I và cả năm 2016, ông Hà Quang Tuyến - Vụ trưởng Vụ Thống kê tài khoản quốc gia cho biết đây là một việc khó và cơ quan này hiện chưa thể đưa ra con số chính xác.
Tăng trưởng khu vực nông nghiệp qua các năm
 20052006200720082009201020112012201320142015
Tăng trưởng
3,23,62,95,42,24,24,82,82,472,92,3
Đơn vị: %
Trong khi đó, khu vực công nghiệp và xây dựng có mức tăng 6,72%, thấp hơn nhiều con số 8,74% của cùng kỳ năm 2015. Tuy nhiên, riêng ngành xây dựng lại tăng trưởng ấn tượng trong 3 tháng đầu năm với mức tăng 9,44% - cao nhất kể từ năm 2010 trở lại đây. Khí hoá lỏng, sữa bột, thức ăn gia súc, thép, ôtô các loại, thức ăn gia súc… là những ngành tăng trưởng tốt tiếp theo, trong khi sản xuất thuốc lá điếu, vải dệt sợi tổng hợp và điện thoại di động lại suy giảm.
Khu vực dịch vụ tăng trưởng 6,13% so cùng kỳ năm trước, cao nhất kể từ Quý I/2012. Trong đó, hoạt động kinh doanh bất động sản đạt mức tăng 3,43% cùng với ngành tài chính, ngân hàng, bảo hiểm...
Cùng với những khó khăn của tình hình kinh tế thế giới, hoạt động xuất - nhập khẩu cũng khá trầm lắng với xu hướng xuất siêu trở lại, trị giá xuất nhập khẩu hàng hoá giảm mạnh 4,8% so với cùng kỳ, trong đó khu vực có vốn đầu tư nước ngoài giảm 5,7%, khu vực kinh tế trong nước giảm 3,5%.

Thuế bảo vệ môi trường với xăng có thể lại tăng

Phương án tăng thuế bảo vệ môi trường đối với xăng dầu lên kịch khung 4.000 đồng có thể được Chính phủ tính đến như một giải pháp để hoàn thành nhiệm vụ thu ngân sách năm 2016.
Sau khi tăng gấp ba thuế bảo vệ môi trường với xăng năm 2015, đề xuất tăng tiếp khoản thuế này một lần nữa lại được Chính phủ nêu lên trong một tờ trình gửi Quốc hội gần đây.
Theo đó, để hoàn thành nhiệm vụ thu ngân sách năm 2016, Chính phủ (đơn vị đề xuất là Bộ Tài chính) cho biết sẽ theo dõi chặt chẽ biến động giá dầu thô thế giới, phân tích đánh giá tác động và xây dựng các phương án, giải pháp đảm bảo cân đối ngân sách. Một trong những biện pháp cụ thể được cơ quan này nêu ra là "nghiên cứu trình cấp có thẩm quyền tiếp tục điều chỉnh tăng thuế bảo vệ môi trường đối với mặt hàng xăng dầu".
thue-bao-ve-moi-truong-voi-xang-co-the-lai-tang
Mỗi lít xăng có thể phải chịu thêm 1.000 đồng thuế bảo vệ môi trường nếu Chính phủ chính thức đề xuất. Ảnh: Q.Đ
Như vậy, trong trường hợp thu ngân sách 2016 gặp khó khăn do giá dầu bất lợi và các nguồn thu từ thuế nhập khẩu giảm mạnh, phương án này sẽ được Chính phủ đề xuất sử dụng.
Theo quy định hiện nay, khung kịch trần với thuế bảo vệ môi trường là 4.000 đồng, do Uỷ ban Thường vụ Quốc hội đưa ra trong khung mức thu quy định tại Luật. Trước đó, loại thuế này đã tăng từ 1.000 lên 3.000 đồng từ 1/5/2015 nhằm bù đắp một phần giảm thu do lộ trình giảm thuế nhập khẩu xăng dầu theo các cam kết quốc tế. Khi đó, dù Bộ Tài chính và Bộ Công Thương liên tục khẳng định việc này không làm tăng giá xăng nhưng thực tế, theo tính toán, giá xăng vẫn có thể rẻ hơn nếu thuế bảo vệ môi trường không "đội" lên gấp ba lần.
Cách đây một tháng, trước thông tin thuế bảo vệ môi trường có thể tăng lên kịch khung, đại diện Vụ Chính sách thuế cũng như Bộ trưởng Bộ Tài chính Đinh Tiến Dũng đều khẳng định với báo chí rằng cơ quan này không hề đưa ra đề xuất trên. 
Thuế bảo vệ môi trường tăng gấp ba trong 8 tháng cuối năm đã góp phần giúp thu ngân sách 2015 vượt dự toán trong bối cảnh giá dầu lao dốc. Báo cáo Quốc hội hồi tháng 10 năm ngoái, Bộ trưởng Đinh Tiến Dũng cũng thông tin, nhờ việc tăng gấp ba thuế môi trường với xăng dầu mà ngân sách cả năm có thêm 13.200 tỷ đồng trong điều kiện nhiều nguồn thu khác khó khăn.

Thursday, 21 January 2016

Bộ Tài chính lý giải việc giá xăng dầu giảm chậm so với thế giới

Dù giá dầu thô giảm hơn 40% nhưng giá xăng chỉ giảm khoảng 12%, điều này theo Bộ trưởng Tài chính Đinh Tiến Dũng là hợp lý bởi dầu thô chỉ là một nguyên liệu đầu vào và để có xăng dầu cần qua nhiều khâu với các chi phí khác.
Trong chương trình "Dân hỏi - Bộ trưởng trả lời" ngày 10/1, Bộ trưởng Đinh Tiến Dũng đã chia sẻ về nguyên nhân giá xăng dầu giảm chậm so với giá dầu thô trên thế giới.
- Thưa Bộ trưởng, năm qua, người dân đánh giá cao việc giá xăng dầu trong nước được điều chỉnh linh hoạt theo diễn biến giá dầu thế giới với tổng mức điều chỉnh lớn và số lần giảm là 18 lần. Nhưng vẫn có ý kiến băn khoăn, vì sao giá dầu thô giảm tới hơn 40% nhưng giá xăng bán lẻ trong nước chỉ giảm khoảng 12% và giá dầu bán lẻ chỉ giảm 30%?
bo-tai-chinh-ly-giai-viec-gia-xang-dau-giam-cham-so-voi-the-gioi
Bộ trưởng Tài chính Đinh Tiến Dũng. 
- Giữa giá dầu thô và giá bán lẻ là 2 khái niệm có quan hệ với nhau nhưng không thể đồng nhất về mặt tỷ lệ giảm giá. Bởi lẽ, dầu thô là nguyên liệu đầu vào của giá xăng dầu bán lẻ. Để có xăng dầu ta phải thông qua chế biến, lưu thông, dự trữ rồi cả những chi phí khác như thuế liên quan đến xăng dầu. Theo chúng tôi tính toán, chi phí bán lẻ dầu thô trong giá xăng khoảng 40%, trong giá dầu là 50% nên không thể tính chênh lệch giá dầu thô giảm 40% thì giá bán lẻ xăng dầu cũng phải giảm tương ứng vì những chi phí sản xuất, lưu thông là những chi phí tương đối cố định, thậm chí có thời điểm tăng lên. Như vậy, chúng tôi đánh giá, năm qua việc điều hành giá bán lẻ xăng dầu trong nước cơ bản phù hợp với diễn biến giá dầu thô thế giới.
Cụ thể, so với các nước trong khu vực như Trung Quốc, Lào, Campuchia thì giá xăng và dầu của Việt Nam còn đang thấp hơn tương đối nhiều.
- Định hướng điều hành giá xăng dầu năm nay như thế nào, thưa ông?
- Chúng tôi vẫn kiên định điều hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo Nghị định 83/2014/NĐ-CP. Chúng tôi cũng sẽ thường xuyên cập nhật diễn biến giá xăng dầu thế giới trong quá trình điều hành. Ngoài ra, trong điều hành, tiếp tục đảm bảo tính minh bạch cao hơn. Bên cạnh đó, sẽ tăng cường thanh tra kiểm tra thực hiện giá bán lẻ xăng dầu theo quy định của Chính phủ.
- Giá dầu thô thế giới giảm mạnh được coi là một cú sốc vào ngân sách nhưng cuối năm, Bộ Tài chính vẫn công bố chỉ số cân đối ngân sách và bội chi đạt chỉ tiêu. Bộ Tài chính đã có những chính sách gì để có thể vượt qua được một năm khó khăn như vậy?
- Ngay từ đầu năm 2015, Bộ Tài chính đã ban hành các chính sách và triển khai các pháp luật được Quốc hội thông qua có hiệu lực trong 2015, ví dụ như Luật sửa 5 luật thuế, Biểu thuế tài nguyên, thuế Bảo vệ môi trường, thuế Tiêu thụ đặc biệt..., qua đó điều chỉnh chính sách thu, tăng thu nội địa, giảm thu từ dầu thô và xuất nhập khẩu. Bên cạnh đó, Bộ Tài chính tập trung vào cải cách thủ tục hành chính đặc biệt trong lĩnh vực thuế, hải quan; tăng cường công tác thanh kiểm tra về thuế, chống thất thu, chống nợ đọng, chống chuyển giá. Đến nay, kết thúc 2015 đã thu được gần 40.000 tỷ tiền nợ thuế của năm 2014 chuyển sang.
Cũng phải nói thêm rằng, điều hành ngân sách được thực hiện với tinh thần triệt để tiết kiệm chi thường xuyên để đảm bảo cân đối ngân sách. Triển khai đồng bộ quyết liệt công tác quản lý giá cả thị trường theo cơ chế giá thị trường và đặc biệt trong bối cảnh giá dầu thô giảm sâu, Bộ Tài chính cũng phối hợp với các ngành, các địa phương quản lý đầu vào, giảm chi phí sản xuất kinh doanh qua đó thúc đẩy tăng trưởng kinh doanh, tăng trưởng kinh tế cũng là tăng thu cho ngân sách nhà nước.
Với các giải pháp đồng bộ như vậy, kết thúc 2015, tổng thu ngân sách đã vượt so với dự toán Quốc hội giao đầu năm gần 8% và không phải sử dụng khoản 10.000 tỷ thu từ cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước để bù đắp hụt thu ngân sách trung ương do giá dầu giảm, từ đó giữ được bội chi ngân sách nhà nước năm 2015 theo kế hoạch đã đề ra.
- Theo ông, năm 2016, bối cảnh kinh tế trong và ngoài nước tác động đến vấn đề cân đối thu chi ngân sách như thế nào?
- Như chúng ta đã biết, Quốc hội thông qua dự toán ngân sách với giá dầu thô là 60 USD một thùng nhưng gần đây giá chỉ còn dưới 35 USD một thùng. Bên cạnh đó, việc cắt giảm lộ trình thuế quan 2016 theo các cam kết quốc tế cũng giảm thu ngân sách khoảng 10.000 tỷ đồng. Đây là 2 yếu tố tác động trực tiếp vào tình hình ngân sách trung ương năm 2016. Trước tình hình đó, chúng tôi đã chủ động xây dựng nhiều kịch bản khác nhau về giá dầu thô năm 2016 là 55 USD, 50 USD, 45 USD, 40 USD, 35 USD một thùng và đến nay là 30 USD một thùng để làm cơ sở điều hành ngân sách hợp lý cho năm 2016.
bo-tai-chinh-ly-giai-viec-gia-xang-dau-giam-cham-so-voi-the-gioi-1
Giá dầu thô lao dốc là một trong những thách thức lớn của ngành tài chính.
Bên cạnh đó, phát huy những giải pháp hiệu quả trong năm 2015 như: cắt giảm chi, điều chỉnh chính sách thu, tăng cường thanh kiểm tra chống thất thu, chống nợ đọng... năm 2016, những giải pháp này tiếp tục được thực hiện. Đặc biệt, chúng ta đã có kinh nghiệm trong việc điều hành chính sách giá cả, giá xăng dầu xuống thì phải điều hành thật tốt để điều hành chi phí đầu vào của sản xuất, của nền kinh tế, của doanh nghiệp cũng phải giảm theo. Từ đó giảm chi phí đầu vào sản xuất các sản phẩm của Việt Nam, nâng cao khả năng cạnh tranh đối với các sản phẩm Việt Nam, tạo điều kiện tăng trưởng kinh tế, đó cũng là tiền đề quan trọng nhất để tăng thu.
- Một doanh nghiệp chia sẻ là đã xây dựng được một nhà máy sản xuất hàng xuất khẩu nhờ nguồn vốn huy động được từ thị trường chứng khoán. Đơn vị này muốn Bộ trưởng cho biết sẽ tiếp tục có các chính sách phát triển các thị trường vốn trong và ngoài nước như thế nào để hỗ trợ các doanh nghiệp tiếp cận thị trường vốn trong tiến trình hội nhập?
- Thị trường chứng khoán năm qua tăng 6,1% trong khi các nước trong khu vực giảm sút. Quy mô vốn hóa thị trường năm qua cũng lên tới 57% GDP. Đây là tín hiệu rất đáng mừng, qua thị trường chứng khoán huy động được 299.000 tỷ đồng vốn trái phiếu cho đầu tư phát triển.
Để đảm bảo thị trường ổn định và phát triển trong năm tới, Bộ Tài chính đang triển khai hàng loạt giải pháp, trong đó có tập trung khơi thông nguồn vốn đầu tư gián tiếp vào Việt Nam thông qua thực hiện tốt, quyết liệt và hiệu quả Nghị định 60/2015/NĐ-CP của Chính phủ, trong đó có quy định nới room cho nhà đầu tư nước ngoài. Ngoài ra, Bộ sẽ chuẩn bị các điều kiện nâng hạng cho thị trường chứng khoán Việt Nam từ mức cận biên lên mức mới nổi. Tiếp đến là giảm thủ tục và triển khai đăng ký mã số trực tuyến đối với nhà đầu tư nước ngoài.
Nhóm giải pháp tiếp theo là tiếp tục thực hiện tái cơ cấu theo Đề án đã được Thủ tướng phê duyệt, trong đó tập trung tăng nguồn cung và chất lượng nguồn cung cho thị trường. Điểm mấu chốt và hàng hóa quan trọng nhất chính là cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước. Giai đoạn 2011-2015, chúng ta đã làm một bước rất tốt về số lượng cổ phần hóa 96% theo Đề án được phê duyệt. Nhưng về chất lượng, có những doanh nghiệp bán số lượng cổ phần rất thấp so với Đề án phê duyệt. Do đó, cần có giải pháp nâng cao chất lượng hàng hóa cung cấp cho thị trường chứng khoán, qua đó phải tăng cường thanh kiểm tra tạo tính minh bạch, niềm tin của nhà đầu tư.

Kiểm toán nhiều dự án lớn trong năm 2016

Cao tốc Hà Nội - Hải Phòng, tòa nhà Quốc hội và nhiều dự án lớn của ngành giao thông, dầu khí sẽ được kiểm toán trong năm nay.
Kiểm toán Nhà nước vừa công bố kế hoạch làm việc năm 2016. Theo đó, tại danh mục kiểm toán sử dụng vốn đầu tư và hoạt động xây dựng, cơ quan này sẽ làm việc với chủ đầu tư nhiều siêu dự án đầu tư hạ tầng.
Nhiều nhất là ngành giao thông với hàng loạt công trình có mức đầu tư hàng nghìn tỷ đồng đến hàng tỷ USD như cao tốc ôtô Hà Nội - Hải Phòng, dự án cầu Sài Gòn 2, cầu Cổ Chiên, quốc lộ 3 Hà Nội - Thái Nguyên, nút giao khác mức Ngã ba Huế hay nhiều công trình hàng không như nhà ga sân bay quốc tế Phú Quốc, khu bay cảng Cát Bi…
Bên cạnh đó, nhiều trụ sở hành chính cũng nằm trong kế hoạch làm việc của Kiểm toán mà đáng chú ý là công trình tòa nhà Quốc hội, trung tâm hành chính Bà Rịa - Vũng Tàu, trụ sở Bộ Ngoại giao…
Ngành điện cũng góp mặt nhiều dự án tỷ USD như nhiệt điện Vũng Áng 1, Duyên Hải 1, thủy điện Đồng Nai 5…
Cùng với đó, việc tái cơ cấu tiếp doanh nghiệp Nhà nước tại Tập đoàn Xăng dầu, Cao su, Hóa chất, Than khoáng sản, Bảo Việt, Tổng công ty Xi măng, Hàng không, Kinh doanh vốn Nhà nước… và các ngân hàng lớn như Công Thương (VietinBank), Đầu tư phát triển (BIDV) cũng được kiểm toán lên lịch làm việc.
Đáng chú ý, Kiểm toán Nhà nước cho biết cơ quan này sẽ phối hợp với Kiểm toán Liên bang Nga để cùng phân tích hiệu quả hoạt động của liên doanh dầu khí Vietsovpetro.
 
Blogger Templates